Di vật ở đền chùa, đình miếu hỏng vì tay người theo hai cách: nét khắc, nét vẽ để lại vết vĩnh viễn, và những lần xoa, chạm lặp lại làm mòn dần bề mặt. Đá, gỗ, đồng, vôi vữa mỗi thứ hỏng một kiểu, nhưng chung một điều: sửa lại khó hơn làm hỏng rất nhiều, và có những dấu vết không bao giờ xoá hết được.
Bài này viết cho người đi lễ, đi tham quan, người dẫn đoàn và cha mẹ đưa con đi chơi: những dấu vết hay gặp, vì sao tục xoa tượng có gốc từ niềm tin dân gian mà vẫn nên đổi, chất liệu nào dễ tổn thương nhất, và nên làm gì khi thấy người khác đang khắc, vẽ lên di tích.
Những dấu vết tay người hay gặp ở di tích
Đi một vòng nhiều điểm hành hương, bạn sẽ thấy những dấu vết quen thuộc: tên người và ngày tháng khắc bằng chìa khoá lên cột đá, lên thân cây trúc, cây tre trong vườn chùa; nét bút bi, bút dạ viết lên tường vôi trong hang, lên lan can, lên mặt sau tấm bia; hình trái tim kèm hai chữ cái đầu tên khắc lên vách đá đường núi. Những vết này thường nằm ở chỗ khuất, chỗ đông người dừng chân nghỉ, chỗ có tầm nhìn đẹp.
Loại dấu vết thứ hai khó thấy hơn nhưng phổ biến hơn: những chỗ đen bóng, nhẵn thín trên đầu rùa đá, mõm nghê, chân tượng hộ pháp ngoài trời, tay vịn bậc đá, núm cửa đồng, phần nhũ đá ngang tầm tay. Đó là vết của hàng vạn bàn tay xoa vào theo niềm tin "xoa để lấy may", "xoa để được thông minh", "xoa để có con". Mỗi lần xoa không để lại gì nhìn thấy, cộng dồn qua nhiều năm thì thành một vùng mòn rõ rệt.
Loại thứ ba là dấu vết của việc trèo, ngồi, tựa: mép bia bị sứt vì người ngồi lên, lưng nghê bị nứt vì trẻ con cưỡi, lan can đá bị lệch vì bị tựa người vào để chụp ảnh. Những hư hại này thường đến từ ý nghĩ "chỉ một lát thôi", nhưng đá cổ đã chịu mưa nắng hàng trăm năm, sức chịu lực không còn như đá mới.
Vì sao bàn tay người làm mòn đá
Da tay người luôn có dầu, mồ hôi và muối. Khi chạm vào đá, dầu bám vào các lỗ rỗng li ti trên bề mặt, giữ bụi lại, lâu ngày thành lớp màu sẫm. Muối trong mồ hôi gặp ẩm sẽ tan rồi kết tinh lại trong lỗ rỗng khi khô; quá trình kết tinh lặp đi lặp lại làm bong dần những hạt khoáng nhỏ ở mặt đá. Thêm vào đó là bụi cát trên tay, mỗi lần xoa là một lần mài rất nhẹ.
Với đá có độ xốp cao như sa thạch, đá ong, hoặc đá vôi mềm, hiện tượng này diễn ra nhanh hơn. Những nét chạm tinh như vảy rồng, bờm nghê, nét mắt tượng là những chỗ nhô ra, bị chạm nhiều nhất, nên mòn trước nhất. Bạn có thể thấy ở nhiều di tích: phần thân tượng còn rõ chi tiết, riêng đầu hay mũi đã tròn trịa như được đánh bóng.
Người làm bảo tồn di sản trên thế giới gọi chung hiện tượng này là mài mòn do khách tham quan. Ở nhiều bảo tàng và di tích lớn, giải pháp phổ biến là dây chắn, kính, biển nhắc và đặt bản sao cho khách chạm. Ở Việt Nam, những di tích đông khách đã bắt đầu quây dây quanh bia, rùa và những hiện vật bị xoa nhiều; khi thấy dây chắn, đó là lời nhắc rằng hiện vật ấy đã chịu đủ.
Mỗi chất liệu hỏng một kiểu
Không phải ai cũng biết di vật mình đang đứng trước làm bằng gì. Bảng dưới gom những chất liệu hay gặp ở đền chùa Việt và kiểu hư hại chính do tay người, để bạn hiểu vì sao có nơi cấm chạm rất nghiêm.
| Chất liệu | Thường gặp ở | Hỏng vì tay người thế nào | Sửa lại có dễ không |
|---|---|---|---|
| Đá xanh, đá vôi | Bia tiến sĩ, rùa đội bia, nghê, voi đá, lan can | Mòn chi tiết, sẫm màu, sứt mép khi bị ngồi | Khó; nét đã mòn không phục hồi nguyên trạng |
| Sa thạch, đá ong | Tháp Chăm, tường đá ong làng cổ, bệ cũ | Bở mặt, bong hạt, hằn vết khắc rất sâu | Rất khó; vật liệu bở, gia cố phải làm cẩn trọng |
| Gỗ sơn son thếp vàng | Hoành phi, câu đối, cửa võng, kiệu, tượng gỗ | Bong lớp sơn, mất lớp vàng mỏng, xước | Phải thợ chuyên môn, dễ làm "mới quá" mất vẻ cũ |
| Đồng | Chuông, đỉnh, khánh, tượng đồng ngoài trời | Mất lớp màu cũ, chỗ bị xoa bóng vàng | Không làm lại được lớp màu tự nhiên đã mất |
| Vôi vữa, tường trát | Vách trong hang, tường chùa cũ, cổng tam quan | Viết vẽ khó tẩy, cạo đi thì lộ lớp dưới | Khó; tẩy sơn bút dạ thường để lại vệt |
| Nhũ đá, thạch nhũ | Hang động trong các quần thể hành hương | Đen bóng, cản lớp khoáng mới, gãy khi bị bẻ | Gần như không; nhũ hình thành rất chậm |
Cột cuối là lý do đơn giản nhất để không chạm: hầu hết hư hại do tay người không có cách "trả lại như cũ". Người làm tu bổ chỉ có thể làm chậm sự xuống cấp, gia cố, làm sạch phần nào, chứ không làm sống lại nét chạm đã mòn hay lớp vàng đã bong.
Tục xoa đầu rùa, xoa nghê: hiểu gốc rồi đổi cách
Tục xoa vào tượng đá để "lấy may" có mặt ở nhiều nền văn hoá, không riêng Việt Nam. Ở ta, rùa đội bia ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám là ví dụ quen thuộc nhất: hình tượng rùa gắn với sự bền lâu, tấm bia gắn với người đỗ đạt, nên học trò tin xoa đầu rùa là được thông minh, thi đỗ. Tương tự, có người xoa nghê đá để cầu bình an, xoa chân tượng hộ pháp để cầu sức khoẻ, xoa nhũ đá để cầu con.
Niềm tin này có gốc, và người xoa thường làm với tấm lòng thành. Vấn đề là số người. Một ngôi làng có vài trăm người đi lễ mỗi năm thì tượng đá còn chịu được; một di tích đón hàng chục nghìn lượt khách mỗi mùa thì không. Vì thế ở Văn Miếu, các bia và rùa từ lâu đã được quây dây chắn, và ban quản lý nhiều lần nhắc khách không xoa đầu rùa.
Cách đổi là giữ ý nghĩa, bỏ hành động. Đứng trước bia, bạn có thể đọc tên các vị tiến sĩ trên bảng giới thiệu, kể cho con nghe một người đỗ đạt ở quê mình, chụp một tấm ảnh từ ngoài dây chắn. Đứng trước nhũ đá trong hang, bạn có thể ngắm, nghe người địa phương kể tên gọi, rồi đi tiếp. Lời cầu nằm ở lòng người đi lễ, không nằm ở lớp đá bị mài mòn.
Khắc tên, viết vẽ: dấu vết không xoá được
Một nét khắc vào đá hay cây là vết thương vĩnh viễn. Với cây tre, cây trúc trong vườn chùa, vết khắc là chỗ nấm và côn trùng đi vào; với đá, vết khắc phá lớp mặt đã ổn định qua hàng trăm năm, để lộ lớp trong mềm hơn, phong hoá nhanh hơn. Muốn xoá nét khắc trên đá chỉ có cách mài phẳng cả một vùng, tức là làm mất thêm một lớp nữa.
Nét bút trên tường vôi, vách hang cũng không dễ hơn. Mực bút dạ, sơn xịt thấm vào lớp vữa xốp; cạo thì mất lớp vữa, tẩy bằng dung môi thì loang. Ở nhiều hang động hành hương, những vết viết từ nhiều năm trước vẫn còn, chồng lên nhau thành mảng lộn xộn, dù đã qua nhiều lần làm sạch.
Người ta khắc tên lên di tích thường vì muốn đánh dấu "mình đã đến". Nhu cầu ấy hoàn toàn chính đáng và có cách khác để thoả: chụp một tấm ảnh, viết vài dòng vào sổ cảm nghĩ nếu nơi đó có đặt, ghi lại chuyến đi trong sổ tay của mình. Kỷ niệm của bạn sẽ còn nguyên mà di tích cũng còn nguyên cho người sau.
Khi thấy người khác đang khắc, vẽ, trèo lên di vật
Gặp người đang làm hại di tích, ai cũng lúng túng giữa việc lên tiếng và giữ hoà khí. Vài cách xử lý thực tế, ưu tiên an toàn của bạn và không gây gổ:
- Nếu là trẻ nhỏ đang trèo lên nghê, lên rùa, nhắc nhẹ phụ huynh đứng gần, nói lý do cụ thể kiểu "chỗ này là đá cổ, hay nứt lắm" thay vì trách.
- Nếu là người lớn đang khắc, viết, có thể nhắc một câu ngắn, giọng bình thường. Nhiều người dừng lại ngay khi biết có người để ý.
- Nếu người kia phản ứng gay gắt, đừng tranh cãi. Báo nhân viên bảo vệ hoặc ban quản lý di tích, nói rõ vị trí và thời điểm.
- Chụp ảnh vết hư hại để báo cho ban quản lý là hợp lý; quay cận mặt người khác để đưa lên mạng thì nên cân nhắc, vì dễ biến thành chuyện bêu riếu.
- Nếu phát hiện vết khắc, vết vẽ mới mà không thấy ai, báo ban quản lý để họ xử lý sớm, vì vết mới thường dễ làm sạch hơn vết đã lâu.
Người dẫn đoàn, trưởng đoàn có thể nhắc trước ngay từ khi xuống xe: những chỗ nào trong di tích có dây chắn, những chỗ nào không được chạm. Nhắc trước bao giờ cũng dễ hơn nhắc giữa chừng.
Dạy trẻ nhỏ giữ di vật bằng việc làm, không bằng doạ
Trẻ nhỏ thích chạm, thích trèo, thích sờ vào mọi thứ có hình thù lạ, và con vật bằng đá ở sân đền là thứ hấp dẫn bậc nhất. Doạ con kiểu "trèo lên là bị phạt", "sờ vào là bị quở" có thể làm con nghe lời trong chốc lát, nhưng không dạy con điều gì về di tích, lại gieo thêm nỗi sợ không cần thiết.
Cách hiệu quả hơn là cho con một việc để làm: đếm xem có bao nhiêu con nghê ở sân, tìm con rồng trên mái, so sánh hai con sư tử đá xem con nào là đực, con nào là cái theo cách các cụ tạc. Khi đôi mắt bận quan sát, đôi tay tự khắc yên. Trước khi vào, cha mẹ cũng nên dặn con một quy tắc dễ nhớ: "ở đây chỉ dùng mắt, không dùng tay".
Trẻ lớn hơn có thể hiểu chuyện xa hơn: con rùa này đã đứng đây từ thời ông bà của ông bà con, nếu ai cũng xoa thì đến lượt con của con đến sẽ chỉ còn cục đá tròn. Một câu chuyện như thế ở lại lâu hơn mọi lời cấm. Và khi chính cha mẹ đứng ngoài dây chắn, không xoa, không trèo, đó là bài học rõ ràng nhất.
Câu hỏi thường gặp
Xoa đầu rùa ở Văn Miếu bây giờ còn được không?
Bia và rùa ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám từ lâu đã được quây dây chắn và ban quản lý nhắc khách không chạm vào. Bạn vẫn có thể đứng ngoài dây chắn để ngắm, đọc giới thiệu và chụp ảnh. Nội quy cụ thể nên xem tại chỗ khi đến.
Vì sao nhiều nơi cấm chạm mà vẫn cho chạm một số tượng?
Có nơi đặt riêng một vài hiện vật không phải đồ cổ, hoặc bản sao, để khách được chạm. Những hiện vật gốc, đồ cổ, đồ đã xếp hạng thì thường được bảo vệ. Khi không rõ, cứ coi là không được chạm và hỏi người trực.
Khắc tên lên cây tre, cây trúc trong chùa có hại gì?
Vết khắc làm cây bị thương, nấm và côn trùng dễ vào làm cây khô, chết từng đoạn. Vườn tre, rừng trúc quanh chùa là cảnh quan được trồng và chăm nhiều năm, nhìn hàng chữ khắc chi chít cũng làm mất vẻ đẹp chung cho người đến sau.
Thấy vết vẽ bậy trên di tích có nên tự lau đi không?
Không nên tự tẩy bằng hoá chất hay dụng cụ mang theo, vì có thể làm hỏng thêm bề mặt đá, gỗ, vữa. Hãy chụp ảnh vị trí và báo cho ban quản lý di tích để họ có cách làm sạch phù hợp với chất liệu.
Xoa tượng có làm hỏng thật không, hay chỉ là nói quá?
Một lần xoa thì không thấy gì, nhưng dầu, mồ hôi, muối và bụi trên tay người tích tụ qua hàng vạn lần sẽ làm sẫm màu và mòn chi tiết. Dấu vết đen bóng ở đầu rùa, mõm nghê ở nhiều di tích chính là kết quả nhìn thấy được.
Làm hư hại di tích có bị xử lý không?
Luật Di sản văn hoá và các văn bản hướng dẫn cấm hành vi làm hư hại di tích, hiện vật. Mức xử lý cụ thể do văn bản hiện hành quy định và có thể thay đổi, nên bạn hãy xem nội quy tại di tích và kiểm văn bản pháp luật đang có hiệu lực.